Người thầy đưa tiếng mẹ đẻ vào lớp học
Trong suốt gần 20 năm, một thầy giáo đã đóng góp vào tiến trình giáo dục hoà nhập cho trẻ em dân tộc thiểu số tại Việt Nam
- English
- Tiếng Việt
Đồng hồ đã chỉ quá 12 giờ trưa. Khi Tầu, lúc đó 11 tuổi, vào đến nhà ăn của trường nội trú, bạn bè cậu đều đã dùng bữa xong.
Thầy cô vẫn còn ở đó, nhưng thay vì hỏi xin phần ăn của mình, Tầu lẳng lặng rời trường và đi bộ 15km về nhà để ăn cơm.
“Hồi đó mình rụt rè lắm,” Tầu kể. “Với lại, mình cũng không nói sõi tiếng nên không biết phải hỏi như thế nào.”
Tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng trên lớp và cũng là ngôn ngữ của các thầy cô người Kinh. Nhưng lớn lên ở một bản người Mông thuộc tỉnh Lào Cai, Tầu gần như không biết Tiếng Việt khi vào lớp 1. Cậu thường thấy lúng túng và cảm giác như mình đang bị tụt lại phía sau.
Câu chuyện của Tầu không phải là điều hiếm gặp. Đó là thực trạng chung của nhiều trẻ em dân tộc thiểu số khác khi các em phải học bằng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình. Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập ở tất cả các môn như Tiếng Việt và Toán; khiến hứng thú đi học của các em giảm dần; và kết quả là số trẻ hoàn thành tiểu học thấp hơn nhiều so với học sinh người Kinh[1][2].
Trên quãng đường trở về nhà hôm ấy, Tầu suy nghĩ rất nhiều.
“Mình chỉ nghĩ rằng mình phải cố gắng hơn,” Tầu nhớ lại. “Và mình muốn sau này mình có thể trở thành một người giúp đỡ được những đứa trẻ để các em không phải trải qua khó khăn như mình nữa.”
Khi đó, Tầu chưa biết rằng mình đang nhìn trước được tương lai. Nhiều năm sau, Tầu trở thành một thầy giáo, và là một trong những người tiên phong nhằm giúp giáo dục tại Việt Nam trở nên hoà nhập hơn cho trẻ em dân tộc thiểu số.
Năm 2008, sau năm năm giảng dạy, thầy Tầu tham gia chương trình thí điểm Giáo dục Song ngữ Dựa trên Tiếng Mẹ đẻ, được triển khai thông qua sự hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và UNICEF.
Là sáng kiến tiên phong tại Việt Nam, mục tiêu của chương trình rất đơn giản nhưng có tính đột phá: giúp trẻ em dân tộc thiểu số sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ của mình, từ đó tạo cơ sở để các em có thể học tốt tất cả các môn từ Tiếng Việt, Toán đến Khoa Học. Cách tiếp cận này còn góp phần bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc, đồng thời đảm bảo thế hệ trẻ có thể giao tiếp với người lớn để học hỏi về những niềm tin, tập quán quan trọng được truyền miệng qua nhiều đời.
Đối với trẻ em Mông tham gia chương trình, điều này có nghĩa là các em sẽ học bằng cả tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt từ bậc mầm non đến hết lớp 5.
Trong những năm đầu, tiếng Mông là ngôn ngữ chính trong giảng dạy, giúp các em hiểu được các khái niệm mới và xây dựng sự tự tin bằng thứ ngôn ngữ mà các em thông hiểu. Sau khi các em học bằng tiếng Mông một thời gian, tiếng Việt sẽ dần dần được giới thiệu và chiếm thời lượng lớn hơn trong chương trình học. Như vậy, khi các em hoàn thành bậc tiểu học, các em có thể sử dụng cả tiếng Mông và tiếng Việt, và có thể tự tin học tất cả các môn học hoàn toàn bằng tiếng Việt.
Là giáo viên người Mông duy nhất tại Trường Tiểu học Lao Chải lúc bấy giờ, thầy Tầu cảm thấy mình có trách nhiệm phải đảm bảo chương trình diễn ra thành công.
Tại các buổi tập huấn, thầy được gặp những người giáo viên khác cũng đầy đam mê và những nỗi trăn trở giống như mình.
“Mình nhận ra là không có gì hoàn hảo ngay từ đầu,” thầy cười. “Chúng mình tự bảo nhau là cứ làm và học cùng với học sinh, rồi từ đó điều chỉnh dần.”
Dựa trên khung có sẵn, thầy Tầu điều chỉnh bài học để đảm bảo chúng dễ hiểu và gần gũi với học sinh người Mông. Trên lớp, thầy một lúc đảm nhận nhiều vai trò: vừa là thầy giáo, vừa là phiên dịch, vừa là hoạt náo viên.
“Thầy dạy bằng tiếng Mông nên kiến thức dễ hiểu hơn rất nhiều,” em Tùng, một trong những học sinh lớp song ngữ của thầy Tầu kể lại. “Thầy sẽ dịch những từ mới cho chúng em và giải thích các khái niệm thông qua các câu chuyện văn hoá của người Mông.”
Dần dần, những thành quả đầu tiên trở nên rõ ràng hơn. Học sinh của lớp song ngữ đến trường với sự tự tin và tâm trạng hào hứng. Các em phát biểu nhiều hơn, giúp đỡ lẫn nhau, và thể hiện sự thành thạo ở cả tiếng Mông và tiếng Việt.
“Không quá khó để phân biệt giữa các bạn học lớp song ngữ và các bạn lớp khác,” em Tùng kể. “Em nhớ các bạn không học song ngữ rụt rè hơn hẳn.”
Khi cha mẹ chứng kiến những tiến bộ của con mình, số lượng học sinh đi học cũng tăng lên.
“Khi mình mới dạy ở Lao Chải, chỉ có 80% học sinh đến lớp là cùng,” thầy Tầu nói. “Nhưng dần dần, các em đi học nhiều và đều hơn. Có lẽ vì cha mẹ thấy có giáo viên người Mông, và họ nhận ra được lợi ích mà chương trình mang lại cho con mình. Đó là ngôn ngữ dân tộc, tính cộng đồng và bản sắc văn hoá của các em.”
Đối với nhiều gia đình, đây là lần đầu tiên họ có con em trong nhà biết đọc và biết viết bằng tiếng Mông, một kỹ năng mà rất hiếm người lớn có.
“Khi em học bằng tiếng Mông, em cũng có cho mẹ xem vở,” em Dê, một học sinh khác của thầy Tầu kể lại. “Mẹ không đọc được nhưng gần như từ nào mẹ cũng biết nghĩa. Nó khiến em cảm thấy gần gũi hơn với gia đình và bản sắc của mình.”
Nhiều học sinh của thầy Tầu cũng thấy như vậy. Trong vòng 8 năm của chương trình thí điểm, thầy đã chứng kiến những thành quả vượt xa khuôn khổ lớp học nhỏ của mình.
Cả hai lứa học trò mà thầy dạy đều trở nên vững vàng và sáng tạo hơn; nhiều em đi học ở những trường cấp 3 và đại học điểm. Khi các em đi xa - bao gồm cả những thành phố lớn như Hà Nội, các em luôn mang theo bản sắc văn hoá của mình và tham gia vào những hoạt động, sáng kiến giúp quảng bá văn hoá của người Mông.
Một vài em - như Tùng và Dê - vẫn thường xuyên liên lạc với thầy Tầu để chia sẻ và xin lời khuyên, kinh nghiệm. Hơn 15 năm kể từ ngày các em bước vào lớp học song ngữ, cả hai đều đang chuẩn bị trở thành giáo viên và hỗ trợ những thế hệ học sinh người Mông của riêng mình.
“Lý do ạ? Em thích trẻ con lắm,” em Tùng cười. “Chỉ đơn giản là vậy thôi.”
“Em muốn các em người Mông bây giờ cũng có thể cảm thấy tự hào và được lắng nghe như bọn em hồi trước,” em Dê nói.
Thầy Tầu cảm thấy rất mãn nguyện khi thấy những học trò cũ cũng đi theo con đường của mình. Bước sang tuổi 46, thầy vẫn tiếp tục truyền đi niềm nhiệt huyết đó.
Cùng với việc chương trình song ngữ ở Lào Cai lớn mạnh và được nhân rộng ra nhiều tỉnh, nỗ lực của thầy Tầu đã góp phần hình thành những cách dạy học mới đề cao ngôn ngữ và bản sắc của trẻ em.
Hiện tại, thầy không những giảng dạy mà còn tập huấn và hỗ trợ các giáo viên người Mông dạy tiếng Mông trên khắp cả nước.
Giờ nhìn lại, thầy nhận ra mong ước thưở nhỏ của mình - giúp trẻ em người Mông học tập tốt hơn - đã phần nào thành hiện thực. Tuy nhiên, đối với thầy, hành trình này vẫn còn rất dài và đầy những nỗi băn khoăn.
“Mình rất cố gắng để học sinh có thể đi ‘đúng đường’,” thầy Tầu nói. “Nhưng khi mọi chuyện không được như vâỵ, mình lại thấy như đó là lỗi của mình. Đúng là có rất nhiều yếu tố khác nhau tác động đến cuộc sống của các em, nhưng mình vẫn cảm thấy có lỗi.”
Thầy dừng lại một lát rồi lại cười, “Nhưng mà mình chưa bao giờ nghĩ sẽ làm nghề nào khác đâu.”
[1] National Statistics Office and UNICEF. 2021. Survey measuring Viet Nam Sustainable Development Goal indicators on Children and Women 2020-2021, Survey Findings Report. Ha Noi, Viet Nam: National Statistics Office.
[2] Ministry of Education and Training of Vietnam and UNICEF Vietnam. 2021. SEA-PLM 2019 Regional Assessment Results: Vietnam Country Report.
Về Chương trình Giáo dục Song ngữ dựa trên Tiếng mẹ đẻ
Chương trình Giáo dục Song ngữ dựa trên Tiếng mẹ đẻ được Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) triển khai thí điểm từ năm 2008 đến 2015 với sự hỗ trợ của UNICEF, tại ba tỉnh tập trung nhiều người dân tộc thiểu số là Lào Cai (người Mông), Gia Lai (người J’rai), và Trà Vinh (người Khmer). Trẻ em tham gia chương trình học bằng cả tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt từ bậc mầm non đến hết lớp 5.
Các nghiên cứu từ chương trình thí điểm cho thấy trẻ em dân tộc thiểu số tham gia chương trình tự tin hơn và có kết quả học tập tốt hơn, đồng thời gia đình và cộng đồng dân tộc thiểu số cũng ngày càng ủng hộ sáng kiến này.
Dựa trên những thành quả đạt được, Lào Cai đã nhân rộng mô hình giáo dục song ngữ, thực hiệc chương trình tại 9 trường tiểu học và 5 trường mầm non.
Ở cấp quốc gia, với sự hỗ trợ của UNICEF, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giới thiệu một kế hoạch hành động để nhân rộng mô hình Giáo dục Song ngữ dựa trên Tiếng Mẹ Đẻ tại 8 tỉnh thành có nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số. Kế hoạch bao gồm việc đầu tư vào tập huấn và đào tạo cho đội ngũ giáo viên, tài liệu học tập và công cụ số.