Tuần lễ Nước Thế giới 2021: Gặp gỡ chuyên gia của chúng tôi

Nhân Tuần lễ Nước Thế giới năm 2021 tại Việt Nam, Hãy trò chuyện cùng chuyên gia của chúng tôi - Ông Maharajan Muthu - Trưởng chương trình vì Sự sống còn và Phát triển trẻ em, UNICEF Việt Nam.

UNICEF Viet Nam
Trẻ em và phụ nữ là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất do thiên tai do khí hậu gây ra và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt ở Việt Nam.
UNICEF Việt Nam\Trương Việt Hùng
20 Tháng 8 2021

1. Tại sao chủ đề của Tuần lễ nước thế giới năm nay là “Xây dựng khả năng chống chịu nhanh hơn”

Liên hợp quốc cảnh báo tình trạng khan hiếm nước và hạn hán sẽ gây thiệt hại với quy mô tương đương đại dịch COVID-19 do sự ấm lên của Trái Đất. Nhằm tìm kiếm các giải pháp cụ thể cho những thách thức liên quan đến nước, khủng hoảng khí hậu, an ninh lương thực, sức khỏe, đa dạng sinh học và các tác động của đại dịch COVID-19, Tuần lễ Nước Thế giới năm 2021 diễn ra từ ngày 23 – 27/8 có chủ đề “Xây dựng khả năng chống chịu nhanh hơn”.

 

Tuần lễ Nước Thế giới là cơ hội để chúng ta nhìn nhận cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu sẽ là mối đe dọa lớn nhất đối với thế giới và cũng như Việt Nam - một trong những quốc gia rất dễ bị tổn thương bởi các thảm họa do biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt gây ra. Điều này ảnh hưởng nặng nề đến các nhóm người dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Các tác động khí hậu cùng với các xu hướng phát triển kinh tế - xã hội như công nghiệp hóa, gia tăng dân số và đô thị hóa nhanh tác động đến chất lượng và số lượng nước

Năm nay Tuần lễ Nước Thế giới được thực hiện hoàn toàn trên nền tảng kỹ thuật số để có nhiều người tham gia và chung tay thảo luận tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng khí hậu.”

“Hạn hán đang trên đà trở thành đại dịch tiếp theo và không có vắc xin nào chữa khỏi”, trích lời Bà Mami Mizutori - Đại diện đặc biệt của Liên Hợp Quốc về giảm thiểu rủi ro thiên tai.

2. Hiện trạng tiếp cận nước sạch của người dân Việt Nam hiện nay như thế nào?

Nước sạch, vệ sinh và vệ sinh cá nhân là những yếu tố cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy năng suất và tăng trưởng hiện tại và tương lai của Việt Nam. Trong những năm qua, chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực thực hiện các chương trình cấp nước và vệ sinh đạt được nhiều kết quả rõ rệt. 

Theo Báo cáo Chương trình giám sát chung WHO/UNICEF 2020, Việt Nam có khả năng đạt được các dịch vụ vệ sinh và cấp nước cơ bản vào năm 2030 với tốc độ tăng hàng năm lần lượt là 0,8% và 1,9%. Vào năm 2020, có 90% dân số được cải thiện nước sạch tại nhà và 89% có công trình vệ sinh được cải thiện.Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt lớn trong việc tiếp cận nước sạch giữa thành thị, nông thôn, giữa các vùng miền. Gần 2.5 triệu người ở nông thôn không được sử dụng nước cơ bản và 10 triệu người vẫn chưa được tiếp cận các công trình vệ sinh cơ bản, trong đó phần lớn sống ở nông thôn. Đại dịch COVID-19 đã làm dấy lên nhu cầu cấp bách đảm bảo mỗi người dân đều thực hành tốt vệ sinh cá nhân khi gần 13,6 triệu người chưa có đủ nước và xà phòng tại nhà.

Ông Maharajan Muthu - Trưởng chương trình vì Sự sống còn và Phát triển trẻ em, UNICEF Việt Nam.

Ông Maharajan Muthu - Trưởng chương trình vì Sự sống còn và Phát triển trẻ em, UNICEF Việt Nam.

3. Người dân và trẻ em sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi thiếu nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt?

Thiếu nước sạch vẫn là một thách thức lớn ảnh hưởng đến trẻ em ở các vùng nông thôn Việt Nam. Rất nhiều bằng chứng khoa học đã chứng minh rằng suy dinh dưỡng có liên quan trực tiếp đến nguồn nước và vệ sinh kém. Theo kết quả điều tra dinh dưỡng quốc gia năm 2017, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi của cả nước là 19,6% và tỷ lệ này ở trẻ em dân tộc thiểu số trên 30%.

Thiếu nước và thực hành vệ sinh kém góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, viêm phổi và nhiễm ký sinh trùng và trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất của các bệnh này. Tiêu chảy đứng thứ bảy trong gánh nặng bệnh tật quốc gia và một trong những nguyên nhân chính là do thiếu nước sạch để ăn, uống và sinh hoạt.

Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y tế cho biết “9.000 người chết hàng năm do điều kiện vệ sinh và chất lượng nước kém, gần 250.000 người phải nhập viện vì tiêu chảy cấp do nước sinh hoạt bị ô nhiễm, khoảng 200.000 người bị ung thư liên quan đến ô nhiễm nguồn nước”.

Việt Nam vẫn phải đối mặt với những trở ngại trong việc cung cấp nước sạch cho 100% dân số. Ngập lụt, ô nhiễm, hạn hán, cạnh tranh nguồn nước trong mùa khô và các chất gây ô nhiễm đã góp phần làm suy giảm nguồn cung cấp nước sạch. Ngân hàng Thế giới cho rằng tác động của ô nhiễm nguồn nước đối với sức khỏe con người là mối đe dọa lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam. Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh rằng nếu những thách thức này không được giải quyết vào năm 2035, Việt Nam có thể giảm 6% GDP hàng năm.

Việc không có nước sạch tại nhà tác động lớn đến khối lượng công việc của người phụ nữ vì họ là người chịu trách nhiệm chính trong việc lấy nước cho gia đình. Con cái trưởng thành thường chịu trách nhiệm lấy nước và phải dành nhiều thời gian để làm việc đó. Tỷ lệ hộ có phụ nữ trưởng thành lấy nước ở người dân tộc thiểu số (74,2%) cao hơn Kinh/ Hoa (57,7%).

Hãy cùng chúng tôi hưởng ứng #NgayNuocTheGioi - bằng cách cùng nhìn lại chiến dịch #Nofilter, một chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về hậu quả của biến đổi khí hậu. Thông qua loạt ảnh chụp trẻ em Việt Nam được tráng rửa theo cách thủ công và truyền thống (sử dụng film, nước và phòng tối), nhưng với nguồn nước ô nhiễm từ sông hồ gần nơi các em sống. Những bức ảnh bị hư hại nặng nề cũng chính là câu trả lời cho việc biến đổi khí hậu ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe và sự phát triển của con em chúng ta.

4. UNICEF Việt Nam có những khuyến nghị gì với Chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo quyền được tiếp cận nước sạch của người dân và trẻ em, đặc biệt là các vùng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu?

Chúng tôi khuyến nghị rằng ở cấp quốc gia, cần xác định các ưu tiên để đẩy nhanh hành động về nước-khí hậu bao gồm: tăng cường quản lý nước và năng suất nước để quản lý sự cạnh tranh giữa nhu cầu nước của sinh hoạt, nông nghiệp, năng lượng, công nghiệp, thành phố và hệ sinh thái; thúc đẩy các giải pháp cụ thể dựa trên tự nhiên có thể hạn chế phát thải và tăng khả năng phục hồi; và lồng ghép biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong toàn bộ các chương trình, dự án và chu trình xây dựng thực hiện chính sách.

Đưa nước sạch và vệ sinh vào các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các Chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình Nông thôn mới, Chương trình giảm nghèo bền vững, Chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các chương trình về y tế, dinh dưỡng để tăng tiếp cận nước sạch và vệ sinh cho người dân ở các vùng miền khó khăn, ảnh hưởng lớn do biến đổi khí hậu, tối đa hóa lợi ích về kinh tế, xã hội, sức khỏe cho người dân và đặc biệt cho sự phát triển của trẻ em. Ngoài ra, nâng cao nhận thức và cảnh báo sớm về biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai cho người dân là hết sức quan trọng; đồng thời tăng cường công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia nhiều hơn nữa khu vực tư nhân, các cá nhân quan tâm đầu tư, vận hành, quản lý hệ thống cấp nước trong thời gian tới đảm bảo người dân tiếp cận các dịch vụ cấp nước một cách bền vững.