Chính sách Xã hội và Quản trị

Giới thiệu chung

 

Giới thiệu chung

Vào năm 2008, tỷ lệ nghèo trên toàn quốc của Việt Nam giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,5%. Việt Nam là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới và đồng thời là nước dẫn đầu khu vực và thế giới trong việc hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ với một số mục tiêu dự tính sẽ đạt được trước thời hạn năm 2015.

Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên là mặc dù đã đạt được những kết quả đầy ấn tượng, tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng về kinh tế và xã hội vẫn còn tồn tại. Năm 2008, tỷ lệ nghèo của người Kinh chiếm đa số là 8,5% trong khi tỷ lệ nghèo của các dân tộc thiểu số là 49,8%[1]. Trẻ em dân tộc thiểu số thường sống trong các hộ gia đình mỗi ngày kiếm được chưa đầy một đô la và ít có cơ hội được đi học hay tiếp cận với y tế hơn so với trẻ em người Kinh.

Nghèo ở trẻ em là một vấn đề đáng quan ngại. Mặc dù chưa có số liệu chính xác về tỷ lệ trẻ em sống trong đói nghèo do chưa có một phương pháp đánh giá nghèo ở trẻ em được thống nhất ở cấp quốc gia, song theo các tính toán sơ bộ của UNICEF và Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, năm 2008 ở Việt Nam cứ ba trẻ em thì có một em nghèo. Thống kê này được tính theo bộ các chỉ số đa ngành chuẩn quốc tế với định nghĩa nghèo ở trẻ em bao gồm việc các em không được tiếp cận với y tế, giáo dục, điều kiện vệ sinh, không được khai sinh và các yếu tố khác. Phát triển kinh tế xã hội nhanh cũng đặt ra các các thách thức mới. Ví dụ, cấu trúc gia đình Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng. Tỷ lệ ly hôn tăng và di cư vì động cơ kinh tế về cơ bản đã làm thay đổi cấu trúc gia đình truyền thống. Gánh nặng buộc phải kiếm đủ tiền để nuôi gia đình dẫn đến hệ quả là năm 2006 có 7% các bà mẹ và 22% các ông bố không có thời gian chăm sóc con cái hàng ngày[2].

Với những tác động có thể ảnh hưởng suốt cả cuộc đời do nghèo ở trẻ em gây ra (ví dụ như thiếu dinh dưỡng ngay từ khi còn nhỏ tuổi có thể dẫn đến tình trạng còi xương vĩnh viễn hoặc suy giảm phát triển nhận thức), điều cấp bách mà Việt Nam cần làm là khắc phục hiện tượng nghèo ở trẻ em bằng những chiến lược, mục tiêu cụ thể và nhất thiết phải khác với những chiến lược áp dụng để giải quyết tình trạng nghèo cho người lớn hoặc cho hộ gia đình. Những người nghèo nhất ở Việt Nam trong đó có trẻ em là những người chịu tác động nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây. Do vậy, tình trạng nghèo trẻ em cần phải được khẩn trương giải quyết.       
Chất lượng và mức độ tin cậy của số liệu cũng như việc thiếu các số liệu phân chia theo giới vẫn là các bất cập trong việc lập kế hoạch và dự trù ngân sách. Các nhà hoạch định chính sách có thể còn chưa có những kỹ năng và kiến thức cần thiết trước các vấn đề liên quan đến quyền trẻ em. Khi thực hiện chính sách, công tác giám sát có xu hướng chỉ tập trung vào việc hoàn thành mục tiêu mà thực chất gần như lúc nào cũng mang tính định lượng chứ không đánh giá mức độ ảnh hưởng của các mục tiêu đó đến cuộc sống của những người được trực tiếp hỗ trợ.

Nhiều đại biểu quốc hội còn chưa quen thuộc với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền trẻ em. Khắc phục được vấn đề này là việc cần làm hết sức quan trọng nhằm tạo ra sự thay đổi cho trẻ em trong các thể chế và luật pháp quốc gia. Vì Quốc hội là cơ quan giữ vai trò ngày càng quan trọng hơn trong việc nghiên cứu luật pháp nên việc đảm bảo các đại biểu dân cử và các viên chức hiểu được về quyền trẻ em là rất cần thiết. Cần kiện toàn các chính sách và chương trình của Chính phủ trên cơ sở quyền trẻ em sẽ góp phần đảm bảo mọi trẻ em Việt Nam được hưởng lợi từ những tiến bộ mà Việt Nam đã đạt được. Với UNICEF, điều đó có nghĩa là phối hợp với Quốc hội Việt Nam xây dựng một khung pháp chế thể hiện đầy đủ các quyền của trẻ em Việt Nam. Điều này đòi hỏi tất cả những gì Chính phủ làm cho trẻ em cần dựa trên cơ sở minh chứng và có giải pháp đáp ứng với tình hình thực tế. Ba cột trụ đó là chính sách, luật và số liệu là bộ khung cần thiết cho phát triển vì trẻ em. 

Hoạt động:

UNICEF đã hỗ trợ các hoạt động sau:

  • Thực hiện điều tra về gia đình Việt Nam trên toàn quốc. Đây là điều tra đầu tiên cung cấp các thông tin quý giá về các vấn đề như bạo lực gia đình, việc ra quyết định trong gia đình, vai trò của thanh thiếu niên trong gia đình và mối quan hệ giữa vợ và chồng cũng như giữa người cao tuổi và con cháu đã trưởng thành của họ.
  • Xây dựng các tài liệu tập huấn về xây dựng chính sách cho dân tộc thiểu số dùng cho cán bộ hoạch định chính sách ở cấp trung ương.
  • Xây dựng cơ sở dữ liệu về trẻ em và phụ nữ dân tộc thiểu số áp dụng công nghệ DevInfo (CEMInfo) và dùng cơ sở dữ liệu đó để cung cấp thông tin cho các quá trình hoạch định chính sách.
  • Phối hợp với Chính phủ xây dựng chỉ số và tỷ lệ nghèo trẻ em để đưa ra một bức tranh xác thực hơn về số lượng trẻ em hiện đang sống trong nghèo đói và các địa phương có tỷ lệ nghèo cao nhất với cả hai tiêu chí này theo vùng và ngành. Tỷ lệ này hiện đang được dùng để tham khảo khi xây dựng Kế hoạch quốc gia về Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2011-2015.
  •  Thực hiện năm báo cáo phân tích chính sách ngành về các chính sách cho dân tộc thiểu số, rà soát lại tất cả các chính sách hiện hành đã thực hiện tại các địa phương có áp dụng chương trình lớn của Chính phủ về hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số. Sử dụng các báo cáo làm cơ sở để xây dựng chính sách về mảng xã hội của chương trình quan trọng này.
  • Hỗ trợ chuyên gia kỹ thuật và đóng góp các ý kiến quan trọng cho các quá trình rà soát các chương trình quốc gia chính của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo và phát triển dân tộc thiểu số nhằm lồng ghép các phân tích nghèo ở trẻ em vào các chương trình và quan tâm chú ý hơn nữa đến tác động xã hội của các chương trình.
  • Thực hiện được công tác theo dõi tình hình phụ nữ và trẻ em hiệu quả hơn thông qua sửa đổi danh mục các chỉ số quan trọng về quyền trẻ em mà Tổng cục Thống kê sử dụng để theo dõi kết quả đạt được; thông qua xây dựng một danh mục các chỉ số dành riêng cho trẻ em và phụ nữ dân tộc thiểu số cũng như xây dựng một cơ sở dữ liệu về các dân tộc thiểu số.
  • Thực hiện điều tra thứ ba trên toàn quốc để thu thập các số liệu quan trọng về trẻ em (Điều tra Ngành Đa Chỉ số - MICS) và xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến MICSInfo cho phép tiếp cận được dễ dàng hơn các số liệu đã thu thập được.
  • Nâng cao năng lực sử dụng phần mềm để quản lý dữ liệu nhằm phục vụ cho phát triển ra quyết định cho cán bộ chính phủ làm việc tại Tổng cục Thống kê, Bộ Y tế, Cục Kiểm soát và Phòng chống AIDS và các tỉnh dự án.          
  • Tập huấn về quyền trẻ em cho cán bộ dân cử ở cấp trung ương cũng như cấp tỉnh và địa phương để giúp họ thực hiện chức năng lập pháp và giám sát.

Tác động:

Đến năm 2011, việc có được các bằng chứng và phân tích để đánh giá các khía cạnh đa chiều của vấn đề nghèo ở trẻ em sẽ giúp đảm bảo vấn đề này được quan tâm thích đáng trong các kế hoạch và chính sách quốc gia giai đoạn 2011-2015. Công tác theo dõi số liệu kinh tế-xã hội được cải thiện sẽ hỗ trợ việc hoạch định chính sách phù hợp, kịp thời và dựa vào các thông tin chính xác. Điều này có thể đạt được thông qua việc lồng ghép các chỉ số quyền trẻ em và phụ nữ vào các điều tra quốc gia mà Chính phủ đang thực hiện bên cạnh việc khuyến khích công tác giám sát. Phối hợp với các đại biểu quốc hội và cán bộ chính phủ để xây dựng các văn bản pháp luật quan trọng như xây dựng chiến lược anh sinh xã hội cho giai đoạn từ năm 2011-2020 góp phần đảm bảo được tầm quan trọng của vấn đề quyền và phúc lợi trẻ em được nắm rõ. Với tập trung vào nhóm trẻ em bị thiệt thòi nhất, UNICEF và các đối tác đã giúp Chính phủ Việt Nam củng cố, giám sát và cung cấp thông tin cho một khung chính sách lấy trẻ em làm trung tâm trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.

Các hoạt động kể trên đã cùng góp phần thay đổi môi trường chính sách ở cấp vĩ mô cho trẻ em gái và trai ở Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, Liên Hợp quốc và các đối tác song phương, UNICEF sẽ hỗ trợ việc phát triển và thực hiện các chính sách dựa trên minh chứng về vấn đề quyền trẻ em và vai trò của các em trong việc thực hiện các quyền thong qua đội ngũ cán bộ nhà nước được nâng cao năng lực (cán nhà hoạch định chính sách và các cán bộ dân cử) xây dựng và thực hiện các chính sách được cung cấp thông tin tốt hơn dựa vào các số liệu có chất lượng. Bằng cách tập trung vào nhóm trẻ em thiệt thòi nhất trong đó có cả những em nghèo nhất trong số các em nghèo và trẻ em dân tộc thiểu số, các hoạt động nói trên sẽ giúp đảm bảo việc thực hiện quyền của các em không bị bỏ qua mà được thực hiện bởi các cán bộ hoạch định chính sách như những gì các em xứng đáng được hưởng.            

Tập trung đầu tư vào các trụ cột quan trọng như số liệu, luật và chính sách như đã đề cập ở trên, UNICEF và các đối tác của UNICEF có thể tạo ra sự khác biệt cho trẻ em bằng cách giúp Chính phủ Việt Nam kiện toàn, thực hiện và giám sát một khung chính sách xây dựng dựa trên cơ sở thông tin, mạnh hơn và hiệu quả hơn, dành ưu tiên cho trẻ em ở trọng tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.  

Ghi chú

[1] Ngân hàng Thế giới (2009) Báo cáo Phát triển Việt Nam

[2]   Bộ VH-TT&DL, TCTK, Viện Nghiên cứu gia đình và giới, UNICEF Việt Nam (2008) Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 – Nhng phát hiện chính

^Quay lên trên

 

 
Search:

 Email this article

Donate Now

unite for children