Tổng quan

Vài nét về Việt Nam

Việt Nam các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

UNICEF và Việt Nam

 

Vài nét về Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam-pu-chia, phía đông và nam giáp Biển Đông. Việt Nam có hơn 85 triệu người thuộc 54 nhóm dân tộc khác nhau, cùng chung sống trên mảnh đất hình “chữ S” với diện tích 331.000 km2. Việt Nam có hơn 3.000 km bờ biển. Ba phần tư đất đai của Việt Nam là đồi núi và đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất[1].

Năm 1986, sau hàng thập kỷ chiến tranh và xây dựng đất nước, Việt Nam đã tiến hành cải tổ nền kinh tế theo hướng đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong thập kỷ qua, Việt Nam là một trong những nền kinh tế hoạt động hiệu quả nhất trên thế giới [2] với GDP và tỷ lệ thu nhập tính trên đầu người tăng trưởng nhanh. Tuổi thọ của người dân Việt Nam ngày càng cao hơn, sức khỏe tốt hơn, có thu nhập cao hơn. Nhìn chung cuộc sống đã khấm khá hơn so với 25 năm trước đây. Ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế mới đây, mặc dù tỷ lệ lạm phát cao song tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên tới 6,78% năm 2010.[3]  

Theo đà tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng, cùng với việc đầu tư vào các chương trình xã hội, Việt Nam hiện đang phấn đấu để trở thành nước có mức thu nhập trung bình và sẽ đạt được hầu hết tất cả các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc ở cấp quốc gia theo đúng kế hoạch đặt ra vào năm 2015. 

Tình trạng bất bình đẳng gia tăng:

Mặc dù nhìn tổng thể Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song nếu xem xét kỹ hơn ở cấp địa phương thì vẫn còn tình trạng bất bình đẳng. Việt Nam có khoảng 26 triệu trẻ em, chiếm hơn 30% dân số, và các em chưa được hưởng lợi một cách bình đẳng từ những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được. Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch giữa nam và nữ cũng như giữa người Kinh và nhiều dân tộc thiểu số thể hiện tương đối rõ ràng.

Ở Việt Nam có sự chênh lệch lớn về kinh tế, bất bình đẳng giới và sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực nông thôn, miền núi xa xôi hẻo lánh với các khu vực thành thị sung túc. Các vấn đề khó khăn mà Việt Nam gặp phải là khả năng tiếp cận đầy đủ với nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường, tiếp cận với các dịch vụ y tế và giáo dục, đặc biệt là giáo dục trung học. Các dân tộc thiểu số vẫn thuộc nhóm người nghèo nhất và được hưởng lợi ít nhất từ sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Ngay cả khi tỷ lệ nghèo đói trên cả nước đã giảm từ 58% vào năm 1993 xuống còn 14,5% vào năm 2008, tỷ lệ người dân tộc thiểu số và người dân nông thôn thoát nghèo còn rất thấp. Năm 2008 có gần 50% người dân tộc thiểu số sống trong cảnh đói nghèo trong khi tỷ lệ đó ở người dân tộc Kinh và người dân tộc Hoa chỉ ở mức chưa đầy 10%.[4]

Đáp ứng nhu cầu chưa được quan tâm chú ý:

Ánh hào quang từ sự sự thành công mà Việt Nam đã đạt được nhìn chung có thể che lấp đi tình trạng chênh lệch nghiêm trọng giữa các khu vực, giữa các dân tộc và sự bất bình đẳng về giới. Khi đã trở thành nước có thu nhập trung bình và có khả năng kinh tế cao hơn, thì điều quan trọng cấp thiết mà Việt Nam cần làm hiện nay là đầu tư vào hệ thống an sinh xã hội và tăng khả năng tiếp cận đến trẻ em nghèo nhất và chịu thiệt thòi nhất. Để làm được điều này sẽ cần phải có các chính sách hiệu quả hơn, tác động trực tiếp đến trẻ em, cần có một khung pháp lý xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn về quyền trẻ em, đồng thời phải có các số liệu đạt chất lượng và đáng tin cậy để hỗ trợ trẻ em Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

Chú thích

[1 ] Ban chỉ đạo Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2010) Kết quả điều tra mẫu mở rộng của Tổng Điều tra Dân số Việt Nam;  Bộ Ngoại giao (2006) Thông tin cơ bản và  danh bạ của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; UNICEF Việt Nam (2010) Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam
[2 ] Ngân hàng Thế giới (2008): “Giới thiệu chung về Việt Nam” (trang 1).
[3 ] Tổng cục Thống kê (2009), truy cập tại http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=10835
[4 ] Tổng cục Thống kê (2010) Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008.

Chỉ số cơ bản

Chú thích

[1] Ban chỉ đạo Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2010) Kết quả điều tra mẫu mở rộng của Tổng Điều tra Dân số Việt Nam;
[2] Tổng cục Thống kê (2010) Niên giám Thống kê Việt Nam 2009
[3] UNICEF (2011).Tình hình trẻ em Thế giới 2011
[4] UNDP (2010). Báo cáo Phát triển con người 2010
[5] Tổng cục Thống kế (2010). Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008

 

 
unite for children