Trẻ em

Trẻ em Việt Nam

 

Trẻ em Việt Nam

Cuộc sống của 26 triệu trẻ em Việt Nam ngày nay đã được cải thiện hơn nhiều so với cách đây hai thập kỷ. Dân số Việt Nam là dân số trẻ với 14,3% dân số nam và 13,4% dân số nữ dưới 16 tuổi.[1] Hầu hết trẻ em đều được học tiểu học và trung học; phần lớn các em đều có cơ hội được tiếp cận đầy đủ với dịch vụ y tế và dự kiến có tuổi thọ trung bình cao hơn các thế hệ trước. Tỷ lệ tiêm chủng cao đã giúp thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và bệnh uốn ván ở mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 2005. Từ năm 1990, số trường hợp mắc bệnh sởi đã giảm 95%. Tuy nhiên, việc bệnh sởi bùng phát trở lại vào năm 2008 và năm 2009 cho thấy cần phải luôn đề cao công tác phòng bệnh. Các trường hợp thiếu Vi-ta-min A đã trở nên hiếm hơn.

Tìm đến với trẻ em bị quên lãng:

Bên cạnh những thành tích rất ấn tượng về kinh tế xã hội, Việt Nam vẫn phải đối mặt với một thực tế là khoảng cách giàu nghèo, giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Hỗ trợ cần đến được với các trẻ em trai và gái hiện đang sống trong những khu vực quanh năm đói nghèo triền miên. Tình trạng nghèo ở trẻ em Việt Nam hiện nay trên thực tế còn nhiều hơn các số liệu thống kê về đói nghèo từ trước tới nay. Các số liệu này không phản ánh được các nhu cầu cơ bản của trẻ em đã được đáp ứng vì nhu cầu của trẻ em không giống như nhu cầu của người lớn. Với sự hỗ trợ của UNICEF, Việt Nam gần đây đã xây dựng một cách tiếp cận về nghèo dành riêng cho trẻ em. Cách tiếp cận này dựa vào các nhu cầu cơ bản của trẻ như giáo dục, y tế, nơi ở, bình đẳng về xã hội và bảo trợ xã hội. Sử dụng phương pháp này cho thấy khoảng 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi, tương đương với con số bảy triệu trẻ em có thể bị coi là nghèo vào năm 2006.  Khoảng 1/3 số trẻ em dưới năm tuổi bị còi cọc do suy dinh dưỡng kéo dài. Cứ ba trẻ em dưới 5 tuổi thì có hơn một em chưa được tiêm chủng đầy đủ. Gần một nửa tổng số trẻ em không được tiếp cận với thiết bị vệ sinh hợp vệ sinh ngay tại gia đình và 2/3 trẻ em không có được một quyển truyện tranh hay một quyển sách dành cho thiếu nhi để đọc.

Nước và điều kiện vệ sinh môi trường không an toàn là nguyên nhân gây ra 50% trong hầu hết các ca bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam trong khi các số liệu năm 2008 cho thấy khoảng  20% trẻ em bị thiếu cân và suy dinh dưỡng.[2] Tai nạn thương tích trẻ em là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tử vong ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, phần lớn là do đuối nước, tai nạn giao thông, ngộ độc và bị thương do vật sắc nhọn gây ra. Mặc dù nhìn chung chỉ chiếm một tỷ lệ tương đối thấp, đại dịch HIV ở trẻ em không còn giới hạn ở các nhóm có nguy cơ cao như trẻ mại dâm và trẻ có sử dụng ma túy. Đến năm 2012, số người nhiễm HIV ước tính tăng lên khoảng 280.000 người trong đó có khoảng 5.500 trẻ em (xấp xỉ 2%).[3]

Trong khi đó, các gia đình phải chịu áp lực hơn bao giờ hết để có đủ thu nhập trang trải các phí sử dụng dịch vụ xã hội như y tế và giáo dục. Điều này đồng thời góp phần làm tang tình trạng chênh lệch xã hội. Với tỷ lệ di cư và tình trạng gia đình tan vỡ tăng lên, trẻ em Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cao hơn bị lạm dụng, bóc lột, bạo lực và xao nhãng.

Năm 2006, có 40% trẻ em nghèo sống ở các vùng nông thôn trong khi đó tỷ lệ trẻ em nghèo sống ở các thành phố là khoảng 10%. Tỷ lệ nghèo trẻ em cao nhất là ở các vùng núi phía Bắc, tới 78% ở Tây Bắc và Đông Bắc và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có tới 60% trẻ em được xác định là nghèo[4]. Tình trạng chênh lệch về giáo dục vẫn còn tồn tại với khoảng 75% trẻ em thành phố được học mẫu giáo trong khi chỉ có 51% trẻ em nông thôn được học mẫu giáo.

Khoảng cách ở cộng đồng dân tộc thiểu số:

Ở Việt Nam, dân tộc thiểu số thường sinh sống chủ yếu ở các khu vực nông thôn miền núi và là những người ít được hưởng lợi nhất từ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tỷ lệ nghèo ở các cộng đồng dân tộc thiểu số năm 2008 dù đã giảm xuống vẫn ở mức 49,8% trong khi tỷ lệ nghèo ở người Kinh chiếm đa số chỉ có 8,5%.[5] Thực tế là trẻ em là người dân tộc thiểu số chiếm hơn 60% tổng số trẻ em nghèo ở Việt Nam. Do gặp phải khó khăn về ngôn ngữ và đường đi học xa và khó khăn nên năm 2006, chỉ có hơn 60% trẻ em dân tộc thiểu số hoàn thành tiểu học trong khi đó tỷ lệ này ở trẻ em người Kinh là 86%. Tỷ lệ trẻ em đi học trung học ở dân tộc thiểu số là 65% và ở trẻ em người Kinh là gần 82%.[6] Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy do chi phí giáo dục cao nên gần 1/3 số hộ gia đình dân tộc thiểu số có một con bỏ học trước khi học hết một lớp trong khi tỷ lệ này ở các gia đình người Kinh là 16%.[7]

Tỷ lệ tử vong ở mẹ ở các khu vực miền núi xa xôi hẻo lánh như ở Tây nguyên và các vùng núi phía bắc cao hơn rất nhiều. Tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới một tuổi (gọi tắt là IMR) ở các vùng Tây nguyên và Tây Bắc vẫn ở mức cao. Năm 2006, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới một tuổi ở khu vực Tây Bắc là 30/1.000 ca sinh sống, cao hơn ba lần so với tỷ lệ của người Kinh chiếm đa số ở khu vực Đông Nam (8/1.000 ca sinh sống). Nguy cơ trẻ em nghèo dưới 5 tuổi tử vong trước khi tròn 5 tuổi cao gấp hai lần so với trẻ em ở các gia đình khá giả. 

Chú thích

[1] Tổng cục Thống kê (2008) Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa Gia đình

[2] Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2009) Số liệu thống kê về tình hình dinh dưỡng của trẻ em qua các năm

[3] Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2008) Báo cáo lần thứ ba của Việt Nam về theo dõi tình hình thực hiện Tuyên bố Cam kết phòng chống HIV/AIDS

[4] Bộ LĐTBXH, Trường Đại học Maastricht và UNICEF (2008). Trẻ em ở Việt Nam – Ai là người nghèo và họ ở đâu? – Xây dựng và ứng dụng một cách tiếp cận đa chiều đối với vấn đề nghèo trẻ em.

[5] Tổng cục Thống kê (2009) Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008.

[6] Tổng cục Thống kê (2006) Điều tra đa chỉ số Việt Nam năm 2006

[7] Ngân hàng Thế giới (2009) Đánh giá Xã hội Quốc gia: Dân tộc và sự phát triển ở Việt Nam.

Quay lên trên

 

 
unite for children