Bảo vệ trẻ em

Tổng quan

 

Tổng quan

Tốc độ phát triển kinh tế xã hội đầy ấn tượng trong 20 năm qua đã phần nào tạo ra những áp lực mới với các gia đình Việt Nam. Không phải mọi thay đổi đồng hành với quá trình phát triển kinh tế nhanh đều mang tính tích cực và khi sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn thì càng nhiều người dân di cư ra thành phố cũng như khắp nơi trong nước để tìm việc làm. Hệ quả của sự gia tăng chênh lệnh về kinh tế, nạn thất nghiệp, tốc độ đô thị hóa nhanh, tình trạng di cư, gia đình tan vỡ và xói mòn các giá trị truyền thống là tỷ lệ trẻ em bị bỏ rơi, quên lãng, bị lạm dụng và bị bóc lột ngày càng cao.

Trẻ em luôn là đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng trước những thay đổi lớn. Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội (MOLISA) ước tính năm 2007 có hơn 2,5 triệu trẻ em sống trong “các hoàn cảnh đặc biệt,” chiếm gần 10% tổng số trẻ em trai và trẻ em gái[1] ở Việt Nam. Con số này bao gồm: 1,2 triệu trẻ khuyết tật[2]; 300.000 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS, trong đó 4.720[3] trẻ nhiễm HIV; 168.000 trẻ mồ côi và trẻ không được cha mẹ đẻ nuôi nấng; 27.000 trẻ lao động; hơn 13.000 trẻ em đường phố; 20.000 trẻ sống trong các trung tâm xã hội[4]; 3.800 trẻ sử dụng ma túy; và ít nhất 850 trẻ bị lạm dụng tình dục. Các vấn đề như khai thác tình dục trẻ em vì mục đích thương mại và buôn bán trẻ em cũng ở mức độ nghiêm trọng song chưa có số liệu cụ thể do không có nguồn số liệu đáng tin cậy.

Vì thiếu một hệ thống bảo trợ xã hội hoạt động mạnh và có hiệu quả nên các vấn đề nêu trên càng trở nên nghiêm trọng hơn. Cụ thế đó là thiếu các dịch vụ bảo trợ xã hội và công tác xã hội chuyên nghiệp để hỗ trợ tất cả các trẻ em dễ bị tổn thương, từ phòng tránh tình trạng bị lạm dụng, bỏ rơi, bóc lột cho đến chăm sóc và điều trị. Đối với các nơi có dịch vụ chuyên môn thì dịch vụ đó thường nhỏ lẻ, không tập trung hoặc không theo quy định. Tại cộng đồng của mình, các tình nguyện viên đã nỗ lực hết sức để hoàn thành vai trò cán bộ xã hội song họ vẫn chưa được tập huấn đầy đủ và chưa có đủ kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ. Ở các cấp cao hơn cũng vậy, hệ thống tư pháp cần cải cách và nâng cao năng lực nhằm giải quyết tình trạng trẻ em là nạn nhân của bạo lực, lạm dụng và bóc lột cũng như tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật.

Cần có một hệ thống bảo vệ trẻ em được xây dựng chặt chẽ bao gồm khung pháp lý và qui chuẩn hoàn chỉnh cũng như một hệ thống bảo trợ xã hội để đảm bảo trẻ em ở cấp địa phương cũng được hưởng lợi. Cần đảm bảo mọi trẻ em đều được quan tâm chăm sóc và bảo vệ.

Hoạt động:

Chương trình bảo vệ trẻ em của UNICEF tập trung nỗ lực vào hai lĩnh vực. Một mặt, chương trình góp phần xây dựng và sửa đổi luật và các chính sách bảo vệ trẻ em (cải cách pháp lý) để luật và các chính sách thân thiện với trẻ em hơn. Đồng thời chương trình cũng góp phần nâng cao kiến thức cho người dân và giúp người dân hiểu thêm về vấn đề lạm dụng và bóc lột trẻ em, cũng như các vấn đề khác trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em thông qua các hoạt động nghiên cứu, vận động chính sách, truyền thông và huy động xã hội tham gia đồng thời cũng khuyến khích sự tham gia của trẻ. 

Lĩnh vực lớn thứ hai mà chương trình tập trung nỗ lực thực hiện là cải thiện các hệ thống tư pháp và phúc lợi xã hội (hay còn gọi là cải tổ cơ cấu) thông qua hỗ trợ kỹ thuật cho các thể chế công giữ vai trò quan trọng ở cả cấp trung ương và cấp địa phương để đưa công tác xã hội trở thành một nghề mới và nâng cao năng lực cho các đối tượng khác hoạt động chuyên nghiệp trong ngành (như cán bộ phúc lợi xã hội, công an, công tố viên, luật sư, thẩm phán, giáo viên, cán bộ y tế cộng đồng…), các đối tượng bán chuyên nghiệp cũng như các tình nguyện viên trong cộng đồng phụ trách các vấn đề bảo vệ trẻ em. Trong lĩnh vực thứ hai này, chương trình bảo vệ trẻ em cũng nỗ lực để cải thiện các cơ chế bảo vệ trẻ em, các cơ chế và các dịch vụ dành cho trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt bao gồm các phương án chăm sóc trẻ tại gia đình và chăm sóc dựa vào cộng đồng thay vì đưa trẻ em vào các trung tâm bảo trợ xã hội.         

Chương trình bảo vệ trẻ em UNICEF đã đạt được những kết quả quan trọng dưới đây:

  • Cải thiện khung pháp lý và chính sách về bảo vệ trẻ em. Kết quả này bao gồm xây dựng được một khung pháp lý hoàn chỉnh về bảo vệ trẻ em, Rà soát pháp luật về bảo vệ trẻ em. Một số luật và chính sách quốc gia để giải quyết các vấn đề về bảo vệ trẻ em đang được xây dựng và thực hiện (như Luật chống Bạo lực Gia đình, Kế hoạch Hành động Quốc gia chống Buôn bán Người, Chương trình Hành động Quốc gia về Trẻ em và AIDS và Quyết định hỗ trợ các nạn nhân của nạn buôn bán người phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng).
  • Nâng cao năng lực và cải thiện các cơ chế bảo vệ trẻ em. Ví dụ, Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho 1.000 cán bộ chính phủ, cộng tác viên và thành viên các tổ chức tôn giáo trong lĩnh vực công tác xã hội cơ bản, tư vấn, bảo vệ trẻ em theo từng trường hợp nhằm giúp họ hỗ trợ và chăm sóc trẻ em tốt hơn. Hơn 10.000 trẻ em tại tám tỉnh được hưởng lợi trực tiếp từ các can thiệp dựa vào cộng đồng để phòng ngừa và đáp ứng các nhu cầu của trẻ em là nạn nhân của nạn buôn bán người và bóc lột tình dục, trẻ em đường phố và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.             
  • Tăng cường các dịch vụ bảo vệ đối với trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt. Xem xét đánh giá lại chức năng của các trung tâm bảo trợ xã hội và đưa vào thực hiện các chức năng mới như chăm sóc trẻ em trong tình trạng khẩn cấp đối với trẻ em là nạn nhân bị bỏ rơi, lạm dụng, buôn bán và bóc lột. Thành lập các trung tâm phục hồi tại ba tỉnh để hỗ trợ trẻ em và phụ nữ là nạn nhân của nạn buôn bán người, bạo lực gia đình và lạm dụng. Xây dựng các mô hình chăm sóc thay thế như mô hình nhà xã hội dựa vào cộng đồng và các trung tâm chăm sóc ban ngày cho trẻ khuyết tật bao gồm cả trẻ em là nạn nhân của chất độc màu da cam.    
  • Nâng cao năng lực và cung cấp thêm các dịch vụ về hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em. Nâng cao năng lực cho cán bộ công an để điều tra các vụ việc liên quan đến trẻ em ở cấp trung ương và cấp tỉnh nhờ có các tài liệu và các lớp tập huấn về điều tra thân thiện với trẻ em do UNICEF xây dựng và tổ chức. Áp dụng thử nghiệm các mô hình mới tại các tỉnh dự án được chọn để kiểm tra mức độ phù hợp với thực tiễn của các phương pháp mới như các biện pháp không giam giữ đối với trẻ vi phạm pháp luật và xây dựng các phòng hỏi thân thiện với trẻ em.
  • Nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng, tổ chức dân sự và trẻ em về vấn đề bảo vệ trẻ em, đặt biệt là vấn đề lạm dụng và bóc lột trẻ em. Khoảng mười triệu người bao gồm cả trẻ em đã được tiếp cận với một chiến dịch quốc gia về phòng chống lạm dụng trẻ em.
  • Cải thiện khung luật pháp quốc gia và nâng cao kiến thức và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em. UNICEF hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng và thực thiện khung luật pháp toàn diện đã được sửa đổi để bảo vệ trẻ em, gồm có xây dựng dự thảo Luật Hành chính, Luật nhận Con nuôi, Luật chống Buôn bán Người và sửa đổi Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh Chống Mại dâm cũng như các luật khác có liên quan. UNICEF vận động và hỗ trợ chính phủ phê chuẩn các công ước quốc tế quan trọng liên quan đến bảo vệ trẻ em như Công ước chống Tội phạm Xuyên quốc gia Có tổ chức của Liên Hợp quốc và Nghị định thư của Công ước liên quan đến chống Buôn bán Người và Công ước La Hay về Nhận con nuôi giữa các quốc gia. UNICEF hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia về Tư pháp đối với người Vị thành niên; cũng như các Hướng dẫn về chính sách để ngăn chặn tình trạng trẻ vị thành niên bị đưa vào các trung tâm bảo trợ xã hội và cải thiện các dịch vụ hỗ trợ/tái hòa nhập cộng đồng. UNICEF giúp đánh giá hệ thống tòa án áp dụng đối với trẻ có liên quan đến pháp luật, dẫn tới thành lập được một Tòa án Thanh niên và Gia đình.
  • Nâng cao năng lực và tăng cường các hệ thống bảo vệ trẻ em. UNICEF hỗ trợ kỹ thuật và vận động chính sách để công tác xã hội được công nhận là một nghề nghiệp qua các hình thức như tổ chức các hội thảo và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế; xây dựng một Kế hoạch Quốc gia về Phát triển Công tác Xã hội ở Việt Nam, một quy tắc ứng xử, các tiêu chuẩn thực hành quốc gia và hội nghề nghiệp dành cho cán bộ xã hội. UNICEF hỗ trợ xây dựng hoạt động thu thập số liệu về bảo vệ trẻ em một cách có hệ thống để hỗ trợ công tác vận động chính sách dựa vào chứng cứ.
  • UNICEF góp phần xây dựng một hệ thống dịch vụ và cơ chế bảo vệ trẻ em có hệ thống. UNICEF hỗ trợ chuyên môn để xây dựng các chính sách, các hướng dẫn và các tiêu chuẩn về chăm sóc thay thế và tập huấn cho cán bộ chính phủ, bao gồm các Tiêu chuẩn Tối thiểu về Chăm sóc tại Các cơ sở bảo trợ xã hội; và các hướng dẫn về các mô hình chăm sóc thay thế như nhà xã hội, các trung tâm chăm sóc ban ngày cho trẻ khuyết tật, chăm sóc nuôi dưỡng và nhận con nuôi. UNICEF cũng hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cho các tổ chức tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ trong nước để chăm sóc và hỗ trợ cho trẻ mồ côi, trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ khuyết tật, các nạn nhân bị buôn bán, trẻ bị lạm dụng và bóc lột.
  • UNICEF đảm bảo xây dựng được các dịch vụ tư pháp thân thiện với trẻ em, hỗ trợ kỹ thuật cho chính phủ xây dựng và thực hiện các hướng dẫn về tư pháp phục hồi cho trẻ xung đột với luật pháp; hỗ trợ thực hiện thí điểm các mô hình dịch vụ như xây dựng các dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân là trẻ em và đại diện hợp pháp cho trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật trong thời gian điều tra và sau khi điều tra và xét xử cũng như xây dựng các chương trình phòng chống tội phạm thanh niên trong cộng đồng.    

Tác động:

UNICEF và Chính phủ Việt Nam dự kiến đến cuối năm 2011 sẽ phối hợp xây dựng được một khung luật pháp và hệ thống quy chế mạnh hơn về bảo vệ trẻ em.  Các văn bản pháp luật quan trọng ở cấp nhà nước như Dự thảo Luật Quản lý Hành chính, Luật nhận Con nuôi, Luật về Người Khuyết tật, Luật Chống Buôn bán Người và Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự và Pháp lệnh Phòng chống Mại dâm sẽ được xây dựng hoặc sửa đổi để đáp ứng các nhu cầu của trẻ em là nạn nhân hoặc của những người có nguy cơ bị quên lãng, lạm dụng và bóc lột và đảm bảo các văn bản pháp luật đó phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Các chiến lược, chính sách và chương trình hành động quốc gia sẽ được xây dựng trong một khuôn khổ quy định đầy đủ việc phòng chống và đối phó với mọi hình thức bỏ bê, lạm dụng, bóc lột và bạo lực đối với trẻ em.

Việc phối hợp với Chính phủ để cải thiện hệ thống luật pháp và các chính sách về bảo vệ trẻ em sẽ đảm bảo xây dựng được một khung pháp lý toàn diện và dựa vào chứng cứ cụ thể để phòng chống và bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, bạo lực và bóc lột một cách hiệu quả. Đồng thời chương trình bảo vệ trẻ em sẽ góp phần giúp nâng cao kiến thức và hiểu biết cho cộng đồng về vấn đề lạm dụng, bạo lực và bóc lột trẻ em để tạo một môi trường khuyến khích việc bảo vệ trẻ em.

Các luật sư, công tố viên và thẩm phán cũng được nâng cao kiến thức và kỹ năng về các kỹ thuật điều tra, báo cáo và khởi tố mang tính thân thiện với trẻ em. Sẽ cung cấp thêm các dịch vụ tư pháp thân thiện với trẻ em như phòng điều tra thân thiện với nạn nhân, các đơn vị đặc biệt giải quyết ngay tại các đồn công an vấn đề vi phạm có liên quan đến tình dục, các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân là trẻ em, xét xử thân thiện với trẻ em và các chương trình chuyển hướng hỗ trợ cho trẻ em vi phạm pháp luật.

Cải thiện chất lượng giáo dục về công tác xã hội sẽ được cải thiện, công tác xã hội được chuyên nghiệp hóa, đảm bảo các nhân viên xã hội có đủ năng lực làm việc với các gia đình và trẻ em dễ bị tổn thương. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên, cán bộ y tế, công an, cán bộ tư pháp và các đối tượng khác là những người làm việc nhiều và trực tiếp nhất với trẻ em dễ bị tổn thương sẽ giúp đối phó hiệu quả hơn nữa nạn lạm dụng, bóc lột và bạo lực trẻ em.

Các mô hình dịch vụ sáng tạo về bảo vệ trẻ em sẽ được thực hiện và đưa vào các chính sách và chương trình quốc gia để áp dụng trên toàn quốc. Ngày càng nhiều các dịch vụ hỗ trợ và phục hồi cũng như mô hình chăm sóc thay thế tại gia đình hoặc tại cộng đồng sẽ được cung cấp cho các nạn nhân là trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật và những người có nguy cơ, đảm bảo công tác chăm sóc trẻ em được duy trì liên tục từ phòng chống, phát hiện sớm, nhận diện và chuyển sang các dịch vụ chuyên biệt.

[1] Bộ LĐTBXH và UNICEF Việt Nam (2009) Tạo Môi trường Bảo vệ Trẻ em Việt Nam: Đánh giá Luật và Chính sách Bảo vệ Trẻ em.

[2] Bộ LĐTBXH (2008) Báo cáo về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cho Ủy ban Văn hóa, giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội

[3] Bộ YT(2009) Ước tính và Dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam, 2007-2012

[4] Bộ LĐTBXH (2008)  Báo cáo về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cho Ủy ban Văn hóa, giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội; Boéchat et al. (2009) Đánh giá hệ thống cho nhận nuôi con nuôi ở Việt Nam

^Quay lên trên

 

 
Search:

 Email this article

Donate Now

unite for children