Tổng quanTrong hai mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đầy ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội song kết quả đạt được giữa các khu vực, các nhóm dân tộc và các nhóm ngôn ngữ còn chênh lệch khá lớn. Các yếu tố như tỷ lệ tử vong cao ở mẹ và trẻ sơ sinh, suy dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường kém, chất lượng nước thấp, tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con và tỷ lệ thương tích trẻ em tăng lên là những đe dọa không ngừng đến sự sống còn của trẻ. Mặc dù từ năm 1990, tỷ lệ tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh đã giảm xuống hơn 50% song tỷ lệ này ở các cộng đồng dân tộc thiểu số, cộng đồng những người rất nghèo và những người sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh vẫn còn cao hơn nhiều. Các bệnh trẻ em hay mắc phải như viêm đường hô hấp cấp, tiêu chảy, sốt xuất huyết và suy dinh dưỡng vẫn còn rất phổ biến. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ở Việt Nam cứ ba trẻ em thì có một em bị coi là còi xương là do thiếu dinh dưỡng và viêm nhiễm. Một nguyên nhân nữa cũng gây lo ngại và góp phần gây ra tỷ lệ còi xương cao là tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đối với trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi trên toàn quốc khá thấp (19,2%[1]. Khả năng tiếp cận với nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường đạt yêu cầu đã được cải thiện, song mới chỉ có 39% người dân ở các vùng nông thôn được hưởng lợi từ điều kiện vệ sinh môi trường đạt yêu cầu[2]. Kiến thức và hành vi vệ sinh của người dân ở nông thôn vẫn còn yếu kém dẫn đến sự lây truyền của các bệnh tiêu chảy như bệnh lỵ và bệnh tả[3] cũng như các bệnh lây nhiễm khác như ký sinh trùng hay mắt hột. Trẻ em cũng đang chịu ảnh hưởng bởi đại dịch HIV đang lan tràn. Tỷ lệ trẻ em gái và trẻ em trai dưới 15 tuổi chiếm gần 2% trong tổng số người nhiễm HIV ở Việt Nam. Năm 2008[4] có khoảng 4100 phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV và ước tính con số này sẽ tăng lên 4800 vào năm 2012[5]. Nếu không có chương trình giáo dục tốt hơn điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin đáng tin cậy và dịch vụ tốt, số trẻ em vừa sinh ra đã nhiễm HIV mỗi năm sẽ lên tới hơn 2000. Một nguyên nhân nữa đe dọa sự sống còn và phát triển của trẻ em đó là năm 2007, gần 7900 trẻ em và thanh thiếu niên dưới 19 tuổi tử vong mà guyên nhân chính là do tai nạn thương tích có thể phòng tránh được như đuối nước, thương tích do tai nạn giao thông đường bộ, ngộ độc thực phẩm, ngã, bỏng và do động vật cắn[6]. Tổng ngân sách nhà nước dành cho y tế còn khá thấp khiến thường dân Việt Nam phải tự chi trả khoảng 63% tổng chi phí dành cho chăm sóc sức khỏe[7]. Đây là một trong những rào cản chính đối với việc tiếp cận các dịch vụ y tế và là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu công bằng trong chăm sóc y tế. Ngành y tế cần được đầu tư nhiều hơn và có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa ở cấp trung ương và giữa các bộ ngành nhằm ứng phó tốt hơn và giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề như suy dinh dưỡng, tai nạn thương tích trẻ em và HIV/AIDS, đó là chưa kể đến mối đe họa luôn rình rập của đại dịch Cúm Gia Cầm và Cúm H1N1 ở người. Hoạt động: Chương trình Sống còn và Phát triển của Trẻ em đã góp phần xuất sắc đạt được các kết quả sau.Vận động xây dựng chính sách và phổ biến kiến thức:
Nâng cao Năng lực và Củng cố Hệ thống:
Tác động: Thông qua lựa chọn các vùng bị thiệt thòi và các biện pháp chính sách ở cấp trung ương, chương trình Sống còn và Phát triển của Trẻ em sẽ hạn chế được tình trạng bất bình đẳng mà trẻ em thiệt thòi phải chịu khi tiếp cận với các dịch vụ y tế và dinh dưỡng. Chính quyền địa phương và các gia đình sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với thông tin liên quan đến phát triển của trẻ em cũng như cách sống trong một môi trường lành mạnh và an toàn. Hoạt động mở mang kiến thức tạo ra thông tin mới về sống còn của trẻ em giúp cải thiện các cơ chế hiện hành và xây dựng chính sách, chương trình và luật mới. Cùng với những kết quả khác đã đạt được, chương trình đã giúp xây dựng: Nghị định số 21 của Chính phủ về nuôi con bằng sữa mẹ tạo khuôn khổ pháp lý cho nuôi con bằng sữa mẹ và hạn chế hoạt động giới thiệu sản phẩm thay thế sữa mẹ không phù hợp; kế hoạch hành động quốc gia chống còi xương phục vụ kế hoạch dinh dưỡng quốc gia trong giai đoạn tiếp theo (giai đoạn từ năm 2011-2020); Chương trình Mục tiêu Quốc gia cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn; Quyết định số 18 ban hành năm 2008 tăng 30% ngân sách nhà nước dành cho y tế; Chương trình Hành động phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con; và hỗ trợ sửa đổi luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm ban hành năm 2007. Ghi chú [1] Viện Dinh dưỡng (2010) Báo cáo ệ thống theo dõi dinh dưỡng thường niên năm 2009 [2] Ban chỉ đạo Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2010) Kết quả điều tra mẫu mở rộng của Tổng Điều tra Dân số Việt Nam [3] WHO Global Task Force on Cholera Control (2008) Thông tin tình hình bệnh tả Việt Nam [4] Bộ YT, WHO và UNICEF (2009) Báo cáo chung toàn cầu năm 2009 về ứng phó của ngành y tế đối với HIV và AIDS [5] Bộ YT (2009) Ước tính và Dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam, 2007-2012 [6] Bộ YT (2008) Báo cáo về thương tích gây tử vong ở Việt Nam năm 2007 [7] UNICEF Việt Nam (2008) Phân tích tình hình công bằn y tế ở Việt Nam
|